Not seeing a Scroll to Top Button? Go to our FAQ page for more info. Youngdad.vn: Vui sống mỗi ngày

Sunday, June 15, 2014

Giới trẻ Việt Nam “ngộ độc” truyện ngôn tình Trung Quốc

Vài năm trở lại đây, đông đảo bạn trẻ, đặc biệt là phái nữ say mê đọc những cuốn truyện ngôn tình “sướt mướt” của Trung Quốc. Những tác phẩm nổi bật được truyền tay nhau, thậm chí cả trên mạng xã hội, các diễn đàn, các website tăng với tốc độ chóng mặt gây nên tình trạng đáng báo động về “ngộ độc” truyện ngôn tình.

Dòng văn học “thống trị” các nhà sách

Hiện nay, đến các con phố chuyên kinh doanh sách ở Hà Nội như Phạm Văn Đồng, Đinh Lễ, Nguyễn Xí có thể thấy các tập truyện ngôn tình xếp dày trên các giá sách với đủ thể loại như: Xuyên không (nhân vật vượt giới hạn thời gian - không gian), cung đấu (đấu đá, tranh đoạt trong cung đình), huyền huyễn (truyện có yếu tố phép thuật, kỳ ảo), võng du (truyện miêu tả song song cuộc sống ảo trên mạng và ngoài đời thực của nhân vật),…

Anh Thắng, bộ phận phát hành của một công ty sách tại Hà Nội cho biết: “Những dòng truyện ngôn tình này đa phần độc giả là con gái. Không chỉ công ty chúng tôi mà một số nhà sách cũng phát hành khá nhiều. Hiện nay truyện ngôn tình chiếm khoảng 50-70% lượng phát hành sách của chúng tôi”.

Ngôn tình là dòng sách đến từ Trung Quốc, trong đó, “ngôn” là ngôn ngữ, “tình” là tình yêu. “Ngôn tình” có thể hiểu là thể loại văn chương dùng ngôn ngữ để nói về tình yêu.

Ở Trung Quốc, tiểu thuyết ngôn tình đặc biệt hấp dẫn giới trẻ. Những câu chuyện ăn khách nhất được chuyển thể thành phim. Khán giả quan tâm từ khâu tuyển chọn diễn viên cho phim cho thấy đất sống của dòng văn học này trong giới trẻ Trung Quốc mạnh mẽ như thế nào.

Tại Việt Nam, thời gian đầu, các câu chuyện ngôn tình được đăng tải rất nhiều trên các website, tuy nhiên, do được độc giả Việt Nam đón nhận nhiệt tình nên dòng truyện này đã được xuất bản thành sách và bán rộng rãi tại các cửa hàng sách trên toàn quốc.

“Ngộ độc” truyện ngôn tình

Nội dung chủ yếu của truyện ngôn tình là các câu chuyện diễm tình, lãng mạn. Mô-típ kiểu chàng đẹp trai lạnh lùng và giàu có tài ba say mê một cô gái cá tính, giàu tự trọng nhưng nghèo khó. Kết quả tình yêu nảy nở, trai đẹp quỳ cầu hôn cô gái nghèo. Chuyện tình đẹp như mơ khiến các bạn trẻ đọc sách không thể rời mắt.

Bên cạnh đó, các tiểu thuyết ngôn tình thường xây dựng nhân vật nam chính và nữ chính rất lý tưởng. Nam chính thường được xây dựng với vẻ ngoài hoàn mỹ, tính cách bên ngoài lạnh lùng nhưng thực ra lại rất chiều chuộng, quan tâm cô gái mình yêu thương, đánh trúng tâm lý của các độc giả nữ. Còn nữ chính cũng được miêu tả xinh đẹp, thuần khiết, tâm hồn trong sáng hoặc cá tính mạnh mẽ, thông minh, sắc sảo vượt lên hoàn cảnh.

Cốt truyện thường đi vào những câu chuyện tình “sướt mướt”, bên cạnh đó, tác giả cũng đi sâu vào những chi tiết nhỏ nhặt nhưng rất chân thực, tạo cảm giác gần gũi cho độc giả. Chính vì thế, không ít độc giả đã xem những cuốn truyện ngôn tình như “sách gối đầu giường”. Nhiều bạn say sưa đọc truyện cả đêm không ngủ.



Những câu chuyện tình yêu trong tiểu thuyết ngôn tình dễ khiến độc giả trẻ đắm chìm trong thế giới ảo.

Hồng, Đại học Quốc gia Hà Nội chia sẻ: “Những cuốn truyện như Bên nhau trọn đời của Cố Mạn hay Ánh trăng không hiểu lòng tôi của Tân Di Ổ là những truyện mình thích nhất. Có khi nghiền suốt cả đêm không biết chán rồi ban ngày ngủ bù. Hiện tại mình đang nghiền tiếp cuốn Tôi như ánh dương rực rỡ”.

Trong truyện ngôn tình có những chuyện tình đẹp lung linh, những nhân vật đẹp hoàn hảo dễ khiến người trẻ quá thần tượng nhân vật trong truyện mà đắm chìm vào thế giới ảo, để rồi khi rời trang sách trở lại cuộc đời thực lại cảm thấy hụt hẫng, chán nản cuộc sống hay tình yêu của mình không đẹp như trong truyện.

“Đọc nhiều “soái ca” với những câu chuyện tình đẹp như mơ cũng khiến mình hay mơ mộng, nhiều khi hi vọng mình cũng sẽ gặp được những tình tiết lãng mạn, bất ngờ như truyện lắm. Tuy nhiên, đọc truyện ngôn tình từ khi lên đại học đến giờ mình vẫn chưa gặp tình huống nào giống truyện nên đôi lúc cũng thấy hụt hẫng”, Ngọc Minh - Đại học Sư phạm tâm sự.

Không chỉ vậy, một số tác giả truyện ngôn tình hiện nay còn đưa yếu tố tình dục vào tác phẩm như một gia vị không thể thiếu với hi vọng tăng lượng độc giả cho tác phẩm của mình. “Có những cuốn ghi chú thích 18+” hoặc “ngôn tình sắc” nhưng mình không để ý, đến khi đọc gặp phải những cảnh “nóng” thấy ngượng ghê. Nhưng có đứa bạn mình thấy “hứng” khi đọc cảnh đó, sinh ra tò mò, lần sau lại tìm đọc tiếp”, Dung - Học viện hành chính chia sẻ.

Bên cạnh ngôn tình, dòng văn học mạng khởi nguồn từ Trung Quốc còn có một số loại sách cũng thu hút lượng độc giả đông đảo, chỉ sau truyện ngôn tình như: Đam mỹ (chuyện tình yêu giữa nam - nam), cấm luyến (tình yêu giữa anh - em/chị - em ruột thịt)... dễ gây những suy nghĩ lệch lạc với người đọc, đặc biệt là các bạn trẻ.

Saturday, June 14, 2014

Đàn ông, phụ nữ và bóng đá


Vì sao đàn ông thích bóng đá? 


Gần như tất cả đàn ông hoặc những anh chỉ có một nửa đàn ông đều thích bóng đá đến điên cuồng. Không phân biệt già trẻ, không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt tây - ta và không phân biệt trình độ văn hóa, trọng lượng cơ thể, tình trạng vệ sinh, hoàn cảnh xuất thân... đàn ông khắp thế giới này đều mong mỏi đến ngày hội bóng đá để gào thét, khóc lóc, cười nói hoặc vừa cười vừa nói vừa khóc lóc.

Sau nhiều năm nghiên cứu, nhiều nhà khoa học đã tập hợp các nguyên nhân lý giải điều đó:

1. Đàn ông thích bóng đá vì... đàn bà không thích bóng đá. Được chứng tỏ mình khác hẳn... tụi bên kia luôn luôn là niềm khao khát thầm kín của đàn ông.

2. Đàn ông thích bóng đá vì hầu như ai cũng đã từng đá bóng. Tuy phần lớn họ chả có năng khiếu gì, các trận đấu ấy chỉ còn dấu vết lờ mờ theo thời gian, nhưng đàn ông nào cũng tự hào là đáng ra họ đã thành một ngôi sao lớn.

3. Đàn ông thích bóng đá do hôm nay rất nhiều cầu thủ bóng đá cực giàu mà không phải... cắp sách đến trường. Bản chất đàn ông đều chán học, và bóng đá là cơ hội hùng hồn cho thấy chả học cũng... tốt như thường.

4. Đàn ông khoái bóng đá do nhiều trận bóng đá diễn ra lúc đêm khuya. Những dịp ra khỏi nhà vào lúc đêm khuya luôn luôn quý báu.

5. Đàn ông thích bóng đá vì trên sân bóng đá hiện nay có nhiều cô gái lúc reo hò thì... nhấc áo lên.

6. Đàn ông thích bóng đá vì bóng đá luôn dễ hiểu hơn so với điện ảnh, ca nhạc hoặc... cải lương. Đặc biệt dễ hiểu hơn so với văn học.

7. Một số đàn ông thích bóng đá nữ do đấy là một trong những cơ hội xem các cô gái mặc quần đùi.

8. Bóng đá có thể thay đổi vào phút cuối cùng. Đàn ông luôn luôn mơ ước được như thế, đặc biệt là trong hôn nhân.

9. Đàn ông luôn luôn mơ đá vào ai đó và tránh được ai đó đá vào mình.

10. Các cầu thủ hôm nay nếu nổi tiếng là mơ ước của các cô gái đẹp. Mà các cô gái đẹp là mơ ước của đàn ông.

11. Đàn ông thích xem bóng đá vì nếu không xem, có thể hỏi đứa bên cạnh mà vẫn biết được kết quả.

12. Khi theo dõi bóng đá, đàn ông nào cũng hạnh phúc khi cảm thấy mình thông minh hơn trọng tài.

13. Trong bóng đá, cái lý bao giờ cũng thuộc về kẻ thắng. Đàn ông rất thích điều này.

14. Bóng đá là môn duy nhất đôi lúc thắng lợi không phải do mình hay, mà do chúng nó đá phản lưới nhà. Đấy là thứ những đàn ông thiếu tự tin hy vọng.

15. Trong bóng đá, cầu thủ đẹp trai chưa chắc đã là cầu thủ giỏi. Mà hầu hết đàn ông trên đời này đều không đẹp trai. Chân lý ấy khiến họ sung sướng.

16. Khi đội nhà thất bại, khán giả có quyền đập phá. Đó là mong ước thầm kín của đàn ông.

17. Khi ghi bàn, cầu thủ được đồng đội thi nhau ôm chầm lấy, mà hầu hết đàn ông đều thích được ôm.

18. Khi xem bóng đá, đàn ông có quyền hát to những bài hát mà mình không thuộc.

19. Khi xem bóng đá, có thể túm cổ đứa ngồi bên cạnh. Khi xem phim hoặc xem ca nhạc chẳng làm được việc này.

20. Khi đi xem bóng đá với bồ nhí, khả năng bị vợ bắt gặp là con số không.

21. Đàn ông thích bóng đá có quyền khinh đứa nào không thích bóng đá. Với hội họa hay kịch nói thì không thể làm thế.

22. Cuối cùng, đàn ông thích bóng đá bởi nếu không thì họ thích gì?

Vì sao phụ nữ ghét bóng đá 

Lời tòa soạn: Có một thực tế không thể phủ nhận là hầu hết phụ nữ đều không thích bóng đá, thậm chí có cả những bà hoặc cô căm thù môn thể thao này.

Theo họ, tháng World Cup là tháng kinh hoàng, bị tra tấn, bị đảo lộn và để sống sót, họ chỉ còn cách di tản về nhà ngoại hoặc “giả nai” chịu đựng cho qua. Tại sao lại như thế? Dưới đây, chúng tôi xin đưa ra một số lý do để bạn đọc tham khảo nhằm thông cảm, chia sẻ hoặc thấu hiểu:

1. Phụ nữ không thích bóng đá vì suốt bao nhiêu năm họ đã kinh sợ nhìn chồng mình trong trang phục quần đùi rộng và áo may-ô, bây giờ lại phải nhìn trên truyền hình.

2. Phụ nữ không thích bóng đá vì cáu kỉnh khi thấy đàn ông khởi động hăng say, hò hét om sòm, làm đủ mọi động tác, chạy đủ mọi góc độ trên sân để rồi vào giây cuối cùng thì... sút ra ngoài.

3. Phụ nữ không thích bóng đá vì phần lớn các ông chồng của họ đều có thân hình khác xa so với cầu thủ bóng đá.

4. Phụ nữ không hiểu sao hai mươi hai người đàn ông lại tranh nhau một quả bóng khi họ có thể ngồi xuống và thì thầm thu xếp với nhau.

5. Phụ nữ vô cùng bực bội khi nhiều ông chồng có thể khóc vì đội Anh thua hoặc đội Pháp thắng nhưng lại dửng dưng khi vợ báo nhà đã hết tiền và con đang ốm.

6. Một số phụ nữ nghi rằng đàn ông đến sân không để xem bóng đá mà xem những đứa con gái đi xem bóng đá.

7. Phụ nữ không thích bóng đá vì không chịu nổi khi suy nghĩ rằng đầu của ông chồng mình hóa ra không bằng chân của chồng đứa khác.

8. Phụ nữ không thích bóng đá vì bóng đá chỉ hay khi có thắng thua, trong khi phần lớn cuộc sống của phụ nữ chỉ hay khi... hòa.

9. Phụ nữ không chịu nổi cảnh vợ của các cầu thủ bóng đá đều rất nổi tiếng mà chẳng phải làm gì.

10. Phụ nữ bất bình khi thấy cầu thủ phạm lỗi bị đuổi khỏi sân, theo họ, đáng ra phải đuổi khỏi nhà.

11. Phụ nữ tự hỏi “khi không đá bóng, cầu thủ phải làm gì?”, khoảng thời gian ấy theo họ rất khả nghi.

12. Phụ nữ không thích những anh đá phản lưới nhà mà vẫn được tha thứ.

13. Phụ nữ cay đắng khi thấy tất cả đàn ông khi xem bóng đá đều hò hét, nhưng trong cuộc sống, những chỗ cần hò hét thì họ im lặng...

14. Phụ nữ kinh hãi bóng đá vì bóng đá là nơi duy nhất đàn ông ôm nhau, nằm đè lên nhau một cách công khai trên sân (lúc ghi được bàn thắng).

15. Phụ nữ thất vọng vì bóng đá bởi sau khi đội nhà chiến thắng, họ ra chợ và thấy hàng hóa không hề rẻ đi. Ngược lại thì có.

16. Phụ nữ sợ hãi bóng đá vì trong cuộc đời, họ đã nhìn thấy rất nhiều bóng bay.

17. Phụ nữ không ưa bóng đá vì những người đàn ông được vào sân vào phút cuối cùng hầu như chỉ làm mất thời gian. Phụ nữ ghét đàn ông câu giờ.

18. Phụ nữ thích cảnh các cầu thủ cởi áo trên sân. Nhưng điều đó lại bị trọng tài thổi phạt.

19. Phụ nữ không sao hiểu nổi họ có số vòng một, vòng hai, vòng ba trong khi bóng đá chỉ có số ở vòng lưng.

20. Cuối cùng, phụ nữ không thích đàn ông đá bóng vì cho rằng “đá” là độc quyền của họ.

Vì sao người lương thiện cả đời gặp nỗi buồn và trắc trở?

Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ bảo:

- Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người ác lại vẫn sống tốt như vậy?

Thầy hiền hòa nhìn tôi trả lời:

- Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương ứng. Nếu một người trong nội tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm giác thống khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội tâm của con có tồn tại điều ác, con không phải là một người lương thiện thật sự. Mà những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác.

Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.

Có cảm giác như bị xúc phạm, tôi không phục, liền nói:

- Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương thiện mà!

Thầy trả lời:

- Nội tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn tại trong con.

Tôi nói:

- Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác thua thiệt” bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải mái, cũng hy vọng mau chóng có thể cải biến tình trạng này; trong xã hội, không ít người căn bản không có văn hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí thức văn hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu nhập, thật sự là không công bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái…

Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi thống khổ của mình.

Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân từ đôn hậu, người từ tốn nói với tôi:

Thu nhập hiện tại của con đã đủ nuôi sống chính con và Gia đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn bản là đã không phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, chỉ là diện tích hơi nhỏ một chút, con hoàn toàn có thể không phải chịu những khổ tâm ấy.

- Nhưng, bởi vì nội tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.

Trong xã hội có nhiều người thiếu văn hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn hóa, nên cần phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngạo mạn. Tâm ngạo mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn hóa thì phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn hóa không phải là căn nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm!

Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư tưởng và quan điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư tưởng và quan điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp hòi cũng là ác tâm.

Sư phụ tiếp tục mỉm cười:

- Lòng tham, tâm đố kỵ, ngạo mạn, ngu si, hẹp hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống khổ mới tồn tại trong con. Nếu con có thể loại trừ những ác tâm đó, những thống khổ kia sẽ tan thành mây khói.”

Con đem niềm vui và thỏa mãn của mình đặt lên tiền thu nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái độ sống của con mới là quyết định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái độ lạc quan, hòa ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.

- Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!”


Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.



- Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.”

- Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi! Một người sống trong thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.

- Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?

Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng.

Ngồi im lặng hồi lâu…xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ ?

Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!

Friday, June 13, 2014

Thuyết quản lý vợ.

Tôi sắp lấy vợ. Các cụ thường nói: "Dạy con từ thủa còn thơ, dạy vợ từ thủa bơ vơ mới về". Tôi nghĩ "mình phải là người chồng cứng rắn, phải thiết quân luật từ đầu" Tôi phải nắm tất cả các quyết định trong cái gia đình tương lai của mình. Nên quản lý vợ như thế nào nhỉ?

Không, phải định nghĩa được quản lý vợ là gì đã. Sau đó phải xác định được mục tiêu của công cuộc quản lý đầy mạo hiểm này một cách bài bản, tiếp nữa là phương pháp tổ chức thực hiện thật kiên quyết và khôn khéo, cuối cùng là nghiệm thu kết quả. Toàn những công việc đòi hỏi một nghị lực phi thường. Lòng tôi nặng trĩu lo âu.

Thuyet-quan-ly-vo


Tôi đi lục tìm mua các sách về quản lý. Vồ được cuốn Tinh hoa quản lý, tôi mừng khôn xiết. Toàn những bậc thầy về khoa học quản lý hiện ra trước mắt tôi, nào F. W. Taylor, nào Henry Fayol, nào C.I Barnard, nào Max Weber... Tôi đọc ngấu nghiến. Không thấy một chương nào nói về quản lý vợ cả. Từ tâm trạng lo âu, tôi bắt đầu hốt hoảng. Không sao. Tôi định thần lại. Gia đình cũng là một tế bào của xã hội và cũng là một tổ chức. Vậy phải áp dụng sáng tạo lý luận về tổ chức của Max Weber, phải phân công rành mạch, phải thiết lập chế độ cấp bậc rõ ràng, phải xây dựng quy chế về chức quyền và chức trách, phải xử lý và truyền đạt công việc bằng văn bản...

Đám cưới diễn ra suôn sẻ. Tôi quyết định hết thảy trừ việc vợ tôi đề nghị được mặc áo dài thay cho váy ba tầng. Thì ra thần hồn nát thần tính, quản lý vợ chẳng có gì khó cả.

Một hôm, sau tuần trăng mật, tôi nói với vợ tôi:

- Theo em, làm thế nào anh có thế làm chủ trong một gia đình? Gương mặt vợ tôi rạng rỡ.

Nàng lao đến treo lên cổ tôi một vòng tay ấm áp và nói: - Có khó gì đâu anh. Anh cứ quyết định mọi việc thì làm chủ gia đình thực sự rồi.

Quả thực lúc đó tôi còn là thằng chồng non nớt nên nghe nàng nói mà mũi cứ nở ra. Tôi loay hoay viết bản "Quy chế gia đình", nhất nhất mọi việc đều được phát lệnh từ một trung tâm. Viết xong, thế hiện tính dân chủ, tôi đưa cho vợ tôi xem. Nàng tủm tỉm cười và buông một câu: "Tuyệt vời!". Chỉ ít lâu sau tôi mới thấm hiểu hai từ "tuyệt vời" kia không phải dành cho tôi mà dành cho nàng.

Nhà cửa bề bộn, tủ lạnh trống rỗng, bếp núc nguội tanh... mà nàng cứ hết giờ làm việc là sang nhà mẹ đẻ chơi, sang nhà các chị gái thăm các cháu. Tôi soát lại bản "Quy chế gia đình thì thấy thiếu điều khoản quy định: "Mọi người trong gia đình phải về nhà ngay lập tức sau giờ làm việc". Tôi đưa cho nàng xem và lại nhận được câu : "Tuyệt vời!". Sự việc không tiến triển, bếp núc vẫn nguội tanh, tủ lạnh vẫn trống rỗng, nhà cửa vẫn bề bộn.

Tôi không vừa lòng và hỏi nàng. Nàng nhìn tôi với đôi mắt thuần phục: - Em đang đợi quyết định của anh đây, anh yêu quý, bây giờ em nên làm việc gì trước?

Máu trong người tôi sôi lên nhưng chợt nghĩ tới bản "Quy chế gia đình" do chính mình soạn thảo không quy định rõ ràng trong các công việc hàng ngày kia, ai làm việc gì và việc gì làm trước, việc gì làm sau. Tôi đành buông một câu: - Sẽ thêm vào một điều khoản: "Từ nay mọi người trong gia đình phải có trách nhiệm tự giác dọn dẹp nhà cửa, đi chợ và nấu cơm". Hoan hô lý luận về tổ chức của Max Weber. Gia đình tôi đi vào ngăn nắp một cách lạ thường. Cả hai vợ chồng luôn luôn đi làm về đúng giờ. Sau đó người đi chợ, người dọn dẹp nhà cửa, rồi cùng nấu cơm. ăn xong nàng rửa bát, tôi giặt giũ...

Cứ thế, bản "Quy chế gia đình" do tôi soạn thảo có bổ sung dần các điều khoản mà mở đầu bao giờ cũng là "Mọi người trong gia đình phải...". Vấn đề quan trọng nhất là mọi việc trong gia đình đều phải do tôi điều hành và quyết định. Cho đến một hôm, bạn gái của vợ tôi đến chơi. Tôi ra bếp đun ấm nước tiếp khách thì nghe loáng thoáng cô bạn hỏi:

- Cậu làm cách nào mà quản lý anh ấy giỏi thế?

- Suỵt! - Vợ tôi nói rất nhỏ - Tuyệt mật. Khai thác lý thuyết sử dụng quyền lực theo kiểu truyền thống của Max Werber đấy.

Cô bạn reo lên:

- Truyền lại cho tớ đi, chồng tớ suốt ngày chỉ thấy nhậu nhẹt với thể thao, chẳng để ý gì đến gia đình cả.

Tự nhiên tôi cảm giác như đang đứng trên một con thuyền chòng chành trên sóng. Chẳng lẽ thuyết quản lý của Max Weber lại là thuyết quản lý ngược.

(Trích Nghệ thuật quản lý)

Sunday, May 25, 2014

Say nắng

Sau bữa chiều, từ cái phòng ăn sáng ánh đèn và nóng nực nọ, họ bước lên boong tàu và dừng lại bên hàng lan can. Nàng nhắm mắt lại, đưa hai bàn tay lên má, lòng bàn tay để lộ ra ngoài, rồi cười không kiểu cách rất đáng yêu - từ người đàn bà nhỏ nhắn ấy toát ra một cái gì thật đáng say mê. Nàng nói: - Tôi hình như đang say phải không? Anh từ đâu tới? Ba giờ trước đầy tôi cũng không thể ngờ rằng có anh tồn tại trên đời này. Ngay cả điều anh lên tàu từ bến nào tôi cũng không biết nữa. Từ bến Xamara à? Nhưng thôi điều ấy chẳng hệ trọng gì. Đây là tôi chóng mặt hay chúng ta đang quay về phía nào?

Phía đằng trước là màn đêm điểm những đốm sáng. Từ trong bóng tối ấy, những làn gió mạnh, dịu mềm phả vào mặt, còn những đốm sáng rập rình lìu mãi về một bên: Con tàu có cái sặc sỡ của sông Vonga quay lái chạy một vòng rộng, cập vào một bến nhỏ.

Viên thiếu uý cầm lấy tay nàng đưa lên mội. Cánh tay nhỏ và khoẻ, rám nắng. Trái tim anh như thắt lại đầy ghê sợ và sung sướng đến ngay ngất khi nghĩ rằng đằng sau tấm xiêm áo bằng lụa nhẹ mỏng kia toàn thân nàng hiện lên chắc lẳn, nước da bánh mật sau một tháng nằm phơi nắng mặt trời phương Nam trên bãi cát biển nóng (nàng nói nàng đi từ Anapa). Viên sĩ quan nói lầm bầm trong miệng:

- Ta xuống bến đi

- Xuống đâu? - Nàng hỏi giọng ngạc nhiên.

- Xuống bến này.

- Để làm gì ?

Anh im lặng. Nàng lại đưa mu bàn tay áp lên đôi má nóng.

- Anh điên ...

- Xuống tàu đi - Anh ta nói giọng kho khốc. Tôi van cô ..

- Thôi được anh muốn thế thì thế - nàng nói và quay người đi.

Tàu thuỷ khẽ chạm mũi vào bên mờ mờ tối và họ suýt nữa ngã vào nhau. Những cuộn dây cáp to tướng ném lên đầu họ lên bờ, con tàu chòng chành, nước chảy xối xả, tiếng cầu tàu hạ xuống bờ .. Anh nhảy bổ vào cabin lấy đồ đạc.

Một phút sau họ đã qua cửa kiểm soát đầu uể oải bước suống bờ cát hằn thành bậc sâu và lặng lẽ ngồi lên chiếc xe ngựa bám đầy bụi cát. Con đường dốc thoai thoải, hai bên lác đác có những cây đèn cong cong, mặt đường êm vì phủ đầy cát bụi, tưởng chừngnhư kéo dài vô tận. Nhưng rồi xe cũng tới đỉnh dốc và chay lộc cộc trên đường phố, qua một quảng trường nho nhỏ nào đó, những công sở, tháp cao, cái ấm áp và mùi vị của phố huyện vào một đêm hè...

Người xà ích dừng xe lại bên một cửa hàng sáng ánh đèn, qua cánh cửa mở thoáng hiện chiếc cầu thang bằng gỗ cũ kỹ gần như dựng đứng, một nhân viên già đầy râu ria không cạo, vận chiếc áo sơ mi cổ chéo màu hồng bên ngoài khoác chiếc áo dài đến đầu gối miễn cưỡng cầm lấy đồ đạc rồi vào nhà với dáng đi chữ bát. Họ bước vào một phòng rộng nhưng rất ngột ngạt vì suốt ngày bị mặt trời hun nóng, căn phòng có những rèm cửa trắng bỏ xuống và hai cây nến còn chưa thắp để trên giá gương - và khi người nhân viên khách sạn vừa đóng cửa lại, viên sĩ quan liền bổ đến bên nàng rồi cả hai người cùng run rẩy chìm đắm trong cái hôn mà sau này họ còn phải nhớ mãi đến phút ấy, cả hai người suốt đời chưa bao giờ lại trải qua một phút như thế.

Vào mười giờ sáng hôm sau, một ngày nóng bức, chan chứa ánh mặt trời và tràn đầy hạnh phúc, văng vẳng tiếng chan chứa ánh mặt trời và tran đầy hạnh phúc, văng vẳng tiếng chuông nhà thờ, tiếng chợ họp ồn ào trên quảng trường nhỏ trước khách sạn, thoang thoảng mùi rơm rạ, mùi xạ hương và tất cả nhưngữ gì toát ra từ một phố huyện nước Nga - ồn ào, rộn rịp và sực nức mùi hương, nàng, ngưòi đàn bà nhỏ nhắn, không tên, cuối cùng cũng không nói tên mình, tự gọi đùa là ”người đẹp không quen biết“, đã đi khỏi nơi đó. Họ ngủ ít thôi nhưng sáng sớm hôm sau, bước ra tấm ri dô đặt bên cạnh giường, sau năm phút rửa mặt và mặc quần áo, trông nàng vẫn trẻ tươi như thời con gái mười bảy. Nàng có ngượng ngùng không?. Không chỉ ngượng một chút thôi. Trông nàng vẫn giản dị, vui vẻ như trước và có vẻ suy tính:

- Không, không, anh thân yêu - Nàng đáp lại yêu cầu của viên sĩ quan muốn cùng nàng đi xa hơn nữa - không, anh phải ở lại đây đến chuyến tàu thuỷ sau. Nếu chúng ta cùng đi nữa thì tất cả sẽ trở nên chẳng hay ho gì. Cả quyết với anh rằng, em hoàn toàn không phải như người anh đã có thể tưởng tượng về em. Chưa bao giờ và sẽ không bao giờ trong đời em lại có gì giống với cái điều vừa xảy ra. Đúng là một màn đen đã đổ sập xuống tâm trí em. Hay, đúng hơn cả hai ta đều bị một cái gì giống như say nắng ..

Không hiểu sao lúc ấy viên sĩ quan lại đồng ý với nàng rất dễ dàng. Anh tiễn đưa nàng đến bến, lòng cảm thấy nhẹ nhàng sung sướng. Lúc ấy con tày hiệu ”Tự bay“ màu hồng đã sắp nhổ neo. Anh hôn nàng trước mặt mọi ngưòi trên boong tàu và vội vàng nhảy lên cầu tàu đã bắt đầu lùi lại đằng sau.



Anh trở về khách sạn với một cảm giác nhẹ nhàng khoan khoái như thế. Nhưng đã có cái gì khang khác. Căn phòng vắng bóng nàg trở nên khác hẳn, không giống như khi còn có nàng. Từng vật nhỏ trong căn phòng ấy còn nhắc nhỏ, gợi đến nàng mà căn phòng thì lại quá trống trải. Điều áy thật lạ lùng ! Mùi nước hoa Anh Cát Lợi của nàng còn phảng phất hương thơm, cốc nước nàng uống dở còn đặt trên khay, mà nàng thì đã vắng ... Trái tim anh bỗng thắt lại, tràn ngập dịu dàng đến nỗi anh phải vội vàng lấy thuốc ra hút và đi đi lại lại trong gian phòng.

- Thật là một cuốc hiêu lưu kỳ lại ! - Anh nói thành tiếng, vừa cười vừa cảm thấy nước mắt trào ra. ”Cả quyết với anh rằng, em hoàn toàn không phải như người mà anh đã có thể tưởng tượng về em ..“ Và thế rồi nàng đi mất ..

Tấm ri đô đã bị gạt sang một bên, chăn gối để nguyên chưa dọn. Viên sĩ quan cảm thấy mình không còn đủ sức để nhìn lên cái giường áy nữa. Anh kéo tấm ri đo lại che giường đi, đóng cửa sổ để khỏi phải nghe thấy tiếng ồn ào, huyên náo ngoài chợt, tiếng những bánh xe lăn trên đường. Anh hạ tấm màn cửa chắn làm bằng một thứ vải xôm xốp và thả mình lên đi văng ... Thôi thế là chấm dứt ”cuộc phiêu lưu trên đường đi“. Nàng đã đi - và thế là giờ đây đã ở một nơi xa lắm; chắc nàng đang ngồi trong phòng xa lông bằng kính hay ngồi trên boong tàu và nhìn dòng sông mênh mông lấp loáng dưới ánh mặt trời nhìn những bè gỗ trôi xuôi, những cồn cát vàng vươn dài ra khỏi bờ, nhình chân trời xa tít tắp nơi màn trời và mặt nước nhập vào làm một, nhìn cả khoảng không gian vô cũng vô tận trên dòng Vonga này .. Nàg đã đi mà thế là đi mãi mãi, vĩnh biệt, không bao giờ trở lại.. Bởi vì làm sao mà biết được giờ đây họ có thể gặp nhau ở đâu? - ”Mình không thể nào - Anh nghĩ - Không thể vì bất cứ lý do gì lại đi đến cái thành phố nơi có chồng nàng và đứa con gái ba tuổi, nơi có cả gia đình nàng và cuộc sống bình thường của nàng !“

Thành phố ấy bỗng trở nên một thành phố khác thường, có cái gì linh thiêng và cái ý nghĩ rằng nàng sẽ sống ở đây một cuốc sống cô đơn buồn tẻ và có lẽ sẽ nhớ đến anh luôn, nhớ đến cuộc gặp gỡ tình cờ ngắn ngủi giữa hai người, còn anh thì không bao giờ được trông thấy nàng - ý nghĩ ấy làm anh ngạc nhiên và sửng sốt. Không, không thể thế được ! Điều ấy quá kỳ quặc , trái với tự nhiên, trái với sự thật! Anh bỗng cảm thấy lòng quặn đau và thấy cả cuộcđời sắp tới của anh, cuộc đời thiếu vắng nàng, sẽ thừa, sẽ không cần thiết biết bao nhiêu! ý nghĩ ấy làm anh thất vọng, làm anh kinh sợ.

”Thật là khỉ! - Anh nghĩ thế rồi đứng dậy đi đi lại lại trong phòng, mắt cố không nhìn ra phía giường sau tấm màn che -Điều gì đa đến với mình thế? Nàng có cái gì đặc biệt và cái gì đã sảy ra? Đúng là một cái gì giống như sự say nắng đã đến! Và cái chính là bây giờ mình làm sao có thể sống qua một ngày, không có nàng, ở đây, ở nơi hẻo lánh này?“.

Anh còn nhớ nàng như in, với tất cả những nét đặc biệt của nàng, nhớ cái mùi da rám nắng và tấm áo lụa nhẹ bồng bồng, tấm thân chắc lẳn, nhớ cái giọng vang vang, giản dị đầy sức sống của nàng.. Cái cảm giác sung sướng đến ngây ngất mà tấm thân dịu dàng non trẻ của nàng vừa đem lại còn nóng hổi trong anh một cách kỳ lạ, nhưng giờ đây cái chính vẫn là cảm giác khác, một cảm giác thứ hai, hàon toàn mới - đó lạ một cảm giác rât lạ lùng, khó hiểu, mà anh không hề thấy, không thể thấy trước được khi mà anh còn bên nàng. Khi anh bắt đầu cái cuộc làm quen này, cuộc làm quen, anh nghĩ, chỉ để giải trí một cách ngộ nghĩnh. Bây giờ anh không sao nói được với nàng cái cảm giác đó nữa: ”Điều chủ yếu là giờ đây không sao nói được với nàng nữa, làm gì vàlàm sao sống được cái này dài vô tận này với chuỗi dài kỷ niệm, với nỗi đau khổ dằn vặt không lối thoát này, ở giữa cái nơi sơn cùng thuỷ tận ngay bên cạnh dòng sông Vonga lấp loáng anh nước mà chính theo dòng sông này con tàu màu hồng ấy đã đưa nàng đi!“.

Cần phải kiếm chuyện gì mà làm cho khuây khoả, cần phải đi đâu đó. Anh vội vã đội mũ lưỡi trai, cầm lấy cái roi cứng rồi bước thật nhanh ra ngoài hành lang, gót giày đóng cá của anh kêu lọc xọc. Anh vội vàng chạy theo cầu thang dựng đứng xuống cửa ra vào .. Nhưng mà, đi đâu? Trước của , anh nhìn thấy một người xà ích trẻ tuổi ăn vận gọn gàng đang điềm nhiên hút thuốc. Anh ngơ ngác nhìn người đánh xe sững sờ tự hỏi: Làm sao mà lại có thể điềm nhiên ngồi trên ghế xe như thế, chậm rãi hút thốc và lúc nào cũng cảm thấy cuộc đời giản đơn, vô tư, lãnh đạm? - ”Có lẽ chỉ có một mình mình là đang khổ sở dằn vặt giữa cái thành phố hẻo lánh này“ Viên sĩ quan vừa nghĩ vậy, vừa đi về phía chợ.

Chợ đã bắt đầu đông đúc lắm. Không hiểu sao tự nhiên anh cứ giẫm chân lên những mặt đường nhày nhụa những bìn phân rơm rạ, giữa những hàng xe ngựa, bên những đống dưa chuột, đĩa bát mới nguyên. Những người đàn bà ngồi ngay trên mặt đất, lòng bàn tay lắc lắc một vốc hạt đỗ khoe phẩm chất của chúng, mồm gọi anh liên tiếp. Những người đàn ông đứng cạnh thì gào to lên: ”Thưa ngài, đây là một thứ dưa chuột thượng hảo hạng đây !“ Tất cả những điều anh vừa thấy thật là ghê sợ vô nghĩa, và anh vội vàng chạy ra khỏi chợ. Anh đi vào nhà thờ, nơi các con chiên đang hát cầu kinh, giọng rất to và thật hào hứng, rành rẽ, tràn đầy cảm giác trách nhiệm. Anh đi dạo rất lâu trong cái vườn nhỏ ở bên sườn đồi chan hoà ánh nắng nóng bức, nhìn xuống dòng sông rộng đang lấp loáng ... Lon và cúc áo anh nóng tới mức không dám sờ tay vào nữa. Mũ anh đầm đìa mồ hôi, mặt nóng ran.. Trở về khách sạn, anh khoan khoái bước vào phong ăn rộng lớn trống trải mát mẻ đặt ở tàng dướt cùng, khoan khoái bỏ mũ ra và ngồi xuống chiếc bàn đặt gần cửa sổ để mở. Nóng từ ngoài trời vẫn phả vào phía trong cửa sổ, nhưng không khí thì vẫn thoáng đãng. Anh gọi món cá trộn với hành tươi và cà rốt ướp lạnh .. tất cả những gì thật nhẹ nhàng, thật hạnh phúc. Niềm vui sướng vô bờ bến ấynhư ở khắp mọi nơi, ở ngày trong cái nóng nực ghê gớm ấy, trong cái mùi vị ồn ào của chợ trong cái thị trấn nhỏ bé xa lạ cái khách sạn cổ lỗ của phố huyện, duy chỉ có điều là trái tim anh như đang bị xé ra thành từng mảnh cùng với niềm vui sướng ấy. Anh uống vội mấy chén rượu vốtka, nhấm với dưa chuột muối nhạt và thì là, cảm thấy rằng có thể chết ngay ngày mai nếu có cách diệu kỳ nào trả lại nàng cho anh hôm nay, để anh cùng sốngvới nàng thêm một ngày nữa, một ngày nữa thôi, cùng sống chỉ nhằm một mục đích, chỉ để thổ lộ với nàng, giãi bày với nàng, làm cho nàng tin rằng anh đang ngây ngất, say sưa yêu nàng đến đau đớn .. Nhưng giãi bày mà làm gì? Để nàng tin mà làm gì ? Anh không biết tại sao, chỉ biết điều ấy đối với anh còn cần thiết hơn bản thân sự sống.

- Đầu óc hoàn toàn loạn xạ rồi! - Viên sĩ quan vừa nói vừ tự rót cho mình chén rượu vótka thứ năm.

Anh gạt đĩa cá trộn hành tươi sang một bên, gọi tiếp cà phê đen ròi châm thuốc hút. Đầu óc anh căng thẳng phải làm gì bây giờ đây, làm sao thoát khỏi tình yêu bất ngờ này? Nhưng anh cũng cảm thấy rõ rệt rằng không sao thoát khỏi được mối tình ấy. Thình lình anh đứng vụt dậy, vơ vội chiếc mũ và cái roi cứng. Sau khi hỏi xem nhà bưu thiếp ở đâu, anh bèn rảo bước đi về phía ấy, trong đầu chuẩn bị sẵn một bức điện ngắn ngủi: ”Từ ngày hôm nay, cuộc đời anh là của em, trong quyền lực của em, mãi mãi, cho đến khi chết?“ Nhưng vừa bước đến bên tường dày đồ sộ của ngôi nhà bưu điện, anh bỗng đứng sững lại sợ hãi: Anh biết tên thành phố nàng ở, biêat nàng có chồng và đứa con gái ba tuổi, nhưng không hề biết tên, biết họ nàng! Hôm qua lúc ăn chiều đã mấy lần anh hỏi nàng về điều ấy, nhưng lần nào nàng cũng chỉ cười và nói: - Việc gì mà anh phải cần biết em là ai, em tên là gì?

Trong góc phố bên cạnh nhà bưu điện có một hiệu ảnh nhỏ. Anh đứng lại chăm chú nhìn vào bức ảnh một viên sĩ quan nào đeo lon viền tua, đôi mắt lồi ra, trán thấp lè tè, có một bộ râu quai nón rất oai vệ và một bộ ngực nở nang đầy mề đay.. Cuộc sống đơn điệu hàng ngày trở nên thật kỳ quặc, thật ghê sợ khi mà trái tim bị trúng, đúng là ”bị trúng“, giờ đây anh mới hiểu điều đó - một quả đấm khủng khiếp - ”Quả đấm của mặt rời“ - bị say nắng. Trái tim anh đang bị một tình yêu quá lớn, một hạnh phúc quá lớn đân rạch! Anh nhìn lên tấm ảnh chụp một đôi trai gái mới cưới - người con trai mặc chiếc áo vét dài, cổ đeo cà vạt trắng, tóc cắt ngắn, đứng sóng đôi bên cô gai vận bộ đồ lụa trắng, tay cầm lấy tay cô. Anh đưa mắt nhìn sang bức ảnh một tiểu thư đội lệch chiếc mũ gương mặt xinh đẹp tưoi tắn .. Sau đó, lòng trân đây niềm khổ đau ghen tị với những người không quen biết vừa rồi, những người không phải chịu đau đớn, anh đăm đăm nhìn dọc theo dãy phố.

- Đi đâu đây? Làm gì đây?

Phố xá vắng tanh, Nhà nào cũng giống nhà nào, đều màu trắng, hai tầng, đều là những cửa hiệu kề bên những cái vườn rất rộng, có cảm giác rằng trong những ngôi nhà ấy không có lấy một người nào.

Trên mặt đường, cát trắng lấp lánh sáng lên như dang bị rang dưới ánh mặt trời nóng bức, rực lửa chói chang niềm vui mà cũng vô vị ở đây. Đằng xa con đường phố dốc thoai thoải chạy cao dần lên phía bầu trời không gợn một đám mây nào vào sáng sớm. Có cái gì gợi lại những thành phố phương Nam như Xavastopoon, Kéc .. Anapa. Hồi tưởng ấy làm viên sĩ quan không chịu nổi. Và anh vội vàng quay trở lại cúi đầu, nheo mắt nhìn chằm chằm những bước chân của chính mình. Anh loạng choạng bước đi va vấp, giày đá vào nhau.

Viên sĩ quan trở về khách sạn, người thấy mệt mỏi lạ lùng, tưởng chừng như vừa đi một đoạn đường dài vô tận ở Turokextan, ở sa mạc Xahara. Cố thu hết bước còn lại, anh bước vào căn phòng rộng lớn vắng ngắt của mình. Người ta dã thu dọn xong căn phòng anh, những dấu vết cuối cùng của nàng không còn nữa, chỉ có chiếc cặp tóc của nàng là nằm sót lại trên bàn nhỏ đặt cạnh giường! Anh cởi bỏ bộ quân phục rồi nhìn vào gương: Khuôn mặt anh - như bao khuôn mặt sĩ quan bình thường khác, đen xạm đi vì nắng, bộ ria mép khô cứng vì nóng, đôi mắt xanh biết, dường như sáng thêm bên nước da xạm nắng, giờ đây rõ những nét căng thẳng điên dại. Cái cổ cứng áo sơ mi trắng mỏng gợi một cái gì trẻ trung mà cũng thật là bất hạnh. Anh nằm ngửa xuống giường và gác đôi giày xám đầy bụi lên thành giường. Cánh cửa sổ mở rộng, rèm rủ xuống và chốc chốc những làn gió lại khẽ đung đưa tấm rèm, đem vào trong phòng hơi nóng hừng hực của những mái tôn đang bị thiêu đốt, cái hơi nóng của cả một bầu trời sông Vonga trống trải, lặng yên giờ đây đang chan hoà ánh nắng. Anh vòng hai tay dưới gáy mình và chăm chú nhìn ra trước mặt. Một lát sau, anh mím chặt môi, từ từ ngắm đôi hàng mi và cảm thấy nước mắt trào ra ở đó - Anh ngủ thiếp đi và khi tỉnh dậy, đằng sau tấm rèm cửa, mặt trời chiều đã óng vàng đỏ rực. Gió đã ngừng thổi, căn phòng trở nên nóng bí, khô rang như trong một cái lò .. anh nhớ lại ngày qua, sáng này, và tưởng như mười năm đã trôi qua.

Anh chậm rãi đứng dậy, chậm rãi tắm rửa, kéo tấm rèm cửa lên rồi gọi người hầu phòng đưa ấm trà đến và tính tiền. Anh lặng lẽ ngồi rất lâu uống cốc nước chè có bỏ những lát chanh. Sau đó, anh cho gọi người xà ích đến, mang đồ đạc ra ngoài. Anh ngồi lên chiếc ghế đệm đã vàng khè và cho hẳn người hầu phòng năm rúp.

- Thưa ngài, hình như cũng chính tôi chở ngài tối hôm qua thì phải! - Ngưòi đánh xe cầm lấy dây cương và vui vẻ nói.

Khi anh xuống bến, trên mắt sông Vonga màn đêm hè sanh biết đã phủ suống. Trên khắp dòng sông, lấp lánh nhứng đốm sáng nhiều màu rực rỡ. Trên cột buồm con tàu đang cập bến ánh đèn lò mờ rõ dần.

- Tôi đã chở ngài đến nơi đến chốn bình yên rồi nhé ! - Người đánh xe nói giọng xun xoe.

Viên sĩ quan cũng thưởng cho anh ta năm rúp, lại mua vé tàu và xuống bến .. Cũng như hôm qua, tàu cũng khẽ chạm vào bến, người cũng hơi chóng mặt vì chân như bị hẫng xuống, tiếng dây cáp ném lên bờ và sau đó là tiếng nước xối xả quanh bánh lái con tàu đã từ từ lùi lại .. Có cái gì vồn vã niềm nở khác thường từ cái con tàu đông nghịt hành khách mà tất cả đèn đã bật sáng và mùi thức ăn thơm phức từ nhà bếp đã bay ra.

Tàu thuỷ lại chạy ngược dòng sông cùng về phía mà chỉ mới sáng này thôi nàng đã đi. Ánh chiều hè đỏ sận đang dần tắt từ một nơi xa lắm, để lại trên mặt sông gợn sóng lăn tăn phía chân trời xa tít tắp những vét sáng mờ mờ, ảm đạm, khẽ lấp lánh. Những anh lửa tạn mạn giữa màn đêm chung quanh cứ lùi dần về phía sau.

Viên sĩ quan ngồi lặng trong căn phòng trống trải bốn phía trên boong tàu và anh cảm thấy mình già thêm chục tuổi.

Thursday, May 22, 2014

Chiếc bè của chiếc thuyền MÉDUSE

Vụ đắm con tầu Méduse cách đây gần 2 thế kỷ là một sự kiện vô cùng thương tâm, bi thảm, khủng khiếp và rùng rợn, hoàn toàn do tội của con người gây ra. Tội lỗi ấy có thể đã được che đậy vĩnh viễn trong bóng tối nếu nó không bị phơi bầy ra giữa thanh thiên bạch nhật bởi tác phẩm hội hoạ “Chiếc bè của chiến thuyền Méduse” (Le Radeau de la Méduse/The Raft of the Medusa) của Théodore Géricault – một bức tranh làm người xem kinh hãi, xôn xao bàn tán về sự thật đằng sau nó, những kẻ chịu trách nhiệm bị nguyền rủa, sự phẫn nộ bùng nổ thành một vụ “scandal” chấn động nước Pháp và thế giới, bộ mặt thối nát của nhà nước đương thời lộ nguyên hình …

Sự thật ấy cũng đánh động lương tâm mọi người để nhận ra rằng con người không bao giờ được phép tự phụ về trình độ tiến hoá của mình: Khi bị dồn tới bước đường cùng, bản năng hoang dã có nguy cơ trỗi dạy để huỷ hoại toàn bộ thành tựu của tiến hoá, biến con người trở lại thành con vật! Với tất cả những hệ quả do nó tạo ra, bức tranh “Chiếc bè của chiến thuyền Méduse” đã vượt ra khỏi ranh giới của hội hoạ để trở thành một trong những bài học sâu sắc nhất về xã hội, chính trị, và đặc biệt, nó đã rung lên tiếng chuông báo động về sự tha hoá trong đạo lý làm người của xã hội đương thời. Dường như muốn tiếng chuông ấy đến tai mọi người trong thế giới hiện đại nên trong năm 2008 vừa qua, Johnathan Miles đã cho ra mắt cuốn “The Wreck of the Medusa” (Vụ đắm con tầu Méduse), kể lại toàn bộ chi tiết vụ việc bắt đầu từ ngày 17-06-1816, khi hạm đội Pháp do chiếc Méduse dẫn đầu, rầm rộ khởi hành đi Châu Phi.

Cuộc khởi hành rầm rộ ngày 17-06-1816:

Năm 1819, khi hoạ sĩ người Pháp Théodore Géricault lần đầu tiên trưng bầy tại Paris tác phẩm “Chiếc bè của chiến thuyền Méduse”, ông không thể tưởng tượng nổi phản ứng mà bức tranh sẽ nhận được. Người xem vừa khâm phục nghệ thuật bậc thầy vừa sợ hãi trước cảnh tượng khủng khiếp bầy ra trước mắt họ. Bức tranh rất lớn, kích thước khoảng 5m x 7m, mô tả một nhóm người tuyệt vọng cùng cực trên một chiếc bè đang trôi nổi lênh đênh giữa biển khơi, bỗng thấy một con tầu xuất hiện nhỏ xíu ở tít đằng xa phía chân trời, hy vọng đẩy họ lao về phía trước để vẫy gọi cầu cứu, …

Có một sự thật bẩn thỉu nhớp nhúa đằng sau bức tranh này, và mọi người được biết sự thật đó là như thế nào. Chuyện xẩy ra 3 năm về trước, liên quan tới một bên là những quan chức ích kỷ, độc ác, bất chấp sự sống của đồng loại, và một bên là những người thấp cổ bé họng có số phận khốn khổ cùng cực, mụ mị đến rồ dại, giết chóc và ăn thịt lẫn nhau như con vật. Khi những người khốn khổ này hiện ra lù lù trong bức tranh, mọi người xôn xao bán tán về câu chuyện rùng rợn của họ.

Chuyện bắt đầu tại Paris năm 1816, tức một năm sau khi Napoléon bị quân Anh và đồng minh đánh bại tại Waterloo. Để thể hiện sự ủng hộ đối với dòng họ Bourbon mới được phục hồi ở Pháp, người Anh trao trả cho nước Pháp hải cảng Saint Louis trên bờ biển Tây Phi thuộc Sénégal. Đây là một hải cảng thương mại sống còn, một điểm dừng chân lý tưởng trên đường đi từ Châu Âu tới mũi Hảo Vọng.

Để tiếp nhận chủ quyền đối với hải cảng này, nhà nước mới của Pháp chuẩn bị một hạm đội để đưa viên tổng toàn quyền mới Pháp tại Sénégal cùng với một số quan chức và binh lính tới hải cảng đó. Thuyền trưởng lãnh đạo hạm đội là Hugues Duroy de Chaumereys . Mặc dù có cái tên nghe rất kêu, Duroy de Chaumereys không thích hợp chút nào với chức vụ mới: Đã 53 tuổi nhưng ông ta vẫn ăn diện, bảnh bao chải chuốt, khó tính, và đặc biệt là đã hơn 20 năm không hề ra biển, thậm chí chưa bao giờ chỉ huy một con tầu. Thực ra trước đó ông ta chỉ là một sĩ quan hải quan. Lý do chủ yếu để De Chaumereys được bổ nhiệm đơn giản vì ông ta là một nhân vật bảo hoàng tuyệt đối trung thành. Từng là một tử tước (vicomte), năm 1795 De Chaumereys đã gia nhập quân đội Anh để chống lại cách mạng Pháp. Năm 1814, lúc Louis XVIII được đưa trở lại ngai vàng cũng là lúc De Chaumereys xứng đáng được trả công. Hải quân là một bộ phận sống còn của nhà nước, do đó Louis XVIII thấy cần phải “bảo hoàng hoá” hải quân. Trong bối cảnh đó, De Chaumereys trở thành một lựa chọn thích hợp, bất chấp tính kiêu căng tự phụ và sự thiếu hiểu biết về hàng hải đến mức đáng lo ngại. Sự bổ nhiệm này làm yên lòng triều đình bao nhiêu thì lại làm cho các sĩ quan cấp dưới của De Chaumereys thất vọng bấy nhiêu. Những sĩ quan này phần lớn đã từng tham gia những chiến dịch của Napoléon chống lại quân Anh, làm sao họ có thể kính nể một gã bất tài chỉ huy mình? Quan hệ giữa họ với De Chaumereys trở nên căng thẳng. Trung uý Des Touches nói: “De Chaumereys là một quý tộc, nhưng suy nghĩ không được nghiêm túc cho lắm. Ông ta coi việc tôi phải làm tôi tớ vâng lời ông ta là một điều tự nhiên. Tôi đã giải thích để ông ta hiểu rằng chúng tôi không sai khi phục vụ tổ quốc trong giai đoạn ông ta chạy ra nước ngoài. Thế là ông ta khó chịu rồi thay đổi thái độ cư xử với tôi …”.

Cuối cùng, cái gì đến phải đến: Ngày 17-06-1816, dưới sự lãnh đạo của De Chaumereys, đoàn tầu hải quân của Pháp gồm 4 con tầu – chiến thuyền Méduse, tầu chở hàng Loire, thuyền hai buồm Argus và tầu hộ tống nhỏ Écho – khởi hành từ Rochefort, rầm rộ hướng tới Saint Louis.

“Nữ quỷ Méduse” gặp con trai thần Zeus:

Bản thân De Chaumereys đi trên con tầu Méduse cùng với vợ chồng đại tá Julien-Désiré Schmaltz, tổng toàn quyền Sénégal mới được bổ nhiệm, cùng nhiều nhân vật “quyền quý” khác. Tổng số hành khách trên chiến thuyền là 400, bao gồm đàn ông, đàn bà, trẻ em, trong đó có 160 thuỷ thủ.

Schmaltz là một sĩ quan hống hách, thích làm cho mình trở thành quan trọng. Ông ta nhanh chóng thuyết phục De Chaumereys nên đi theo lộ trình do ông ta vạch ra – lộ trình ngắn nhất từ Pháp tới Sénégal. Điều này có nghĩa là sẽ dẫn cả đoàn tầu đi qua những chặng nguy hiểm dọc theo bờ biển, nơi có những đụn cát gần bờ, những bãi đá ngầm và rất nhiều mối nguy hiểm khác tiềm ẩn, đặc biệt là dải đất ngầm Arguin nổi tiếng. Tóm lại, đó là một lộ trình đi qua toàn những thứ có thể làm tiêu tan sự nghiệp của những nhà hàng hải kinh nghiệm nhất. Kinh nghiệm thông thường là giương buồm tiến ra ngoài khơi xa xôi của Đại Tây Dương rồi từ đó sẽ đi vào bờ khi cần thiết. Nhưng Schmaltz, một người không biết gì về hàng hải và hay nạt nộ người khác, không hề nghĩ tới một lộ trình đi đường vòng như thế. De Chaumereys dốt nát không kém, nên răm rắp nghe theo Schmaltz. Đám thuỷ thủ thấy lo sợ, nhưng không dám chống đối. Họ phải cố nén nhịn và buộc phải chấp hành mệnh lệnh, mặc dù linh cảm rằng họ đang đi theo một lộ trình cực kỳ điên rồ.

Chiếc Méduse đi nhanh nhất, đến nỗi viên thuyền trưởng nhanh chóng mất liên lạc với các chiếc Loire và Argus. Chiếc Echo cố gắng giữ khoảng cách để dẫn đường cho chiếc Méduse, nhưng rồi cũng không theo kịp. Đợi lúc trời tối, nó khôn ngoan đi vòng ra ngoài khơi để tránh cái chết, trong khi chiếc Méduse vẫn tiếp tục đi theo con đường riêng của mình.

Ngày 28-06, De Chaumereys quen biết một người bạn mới trên tầu – ông bạn Richefort “quý hoá”. Ông này tự giới thiệu bản thân mình là một một nhà thám hiểm Châu Phi sành sỏi, mặc dù kinh nghiệm thực tế hàng hải của ông ta còn ít hơn chính De Chaumereys. Thực ra tay này mới ra tù ở Anh, nơi hắn đã phải đi tù trong khoảng 10 năm trước đó, và lúc này đang là thành viên của một hội từ thiện có ý định đi sâu vào nội địa Châu Phi. Thế là De Chaumereys liền quay sang tin tưởng tay này về “kiến thức Châu Phi”, đến nỗi tuỳ tiện giao cho tay này nhiệm vụ lái thuyền chính thức. Các thuỷ thủ cảm thấy bị sỉ nhục nghiêm trọng. Không khí phản ứng bắt đầu lan tràn, ngay cả phụ nữ cũng phải kêu ca. Nhưng trong khi các thuỷ thủ lắc đầu thì viên thuyền trưởng và ông bạn “quý hoá” đã lái con tầu từ từ đi vào chỗ nguy hiểm.

Ngày 02-07, số phận của họ đã điểm. Những xoáy nước đục ngầu hai bên mạn thuyền thông báo cho biết thuyền đang đi vào chỗ ngày càng nông. Hành khách tỏ ra giận dữ. Bị đe doạ bởi một hành khách, Richefort cười thản nhiên rồi trả lời xoa dịu: “Quý vị thân mến, chúng tôi biết việc chúng tôi làm. Xin quý vị hãy chú tâm vào việc của quý vị và giữ yên lặng. Tôi đã hai lần vượt qua dải đất ngầm Arguin. Tôi đã từng giương buồm tới Biển Đỏ và quý vị sẽ thấy tôi không dễ bị dìm chết đuối đâu”. Lúc ấy Schmaltz vẫn đang ra lệnh và quát tháo mọi người xung quanh, De Chaumereys thì chạy tới bên cạnh những người không vâng lời và ra lệnh phải chấm dứt những lời phàn nàn chê bai. Đó là lý do dẫn tới thảm hoạ.

Ngày 02-07 đã chứng kiến dấu chấm hết của chiến thuyền Méduse. Vào lúc 11 giờ 30’ sáng, có những tiếng kêu thông báo con thuyền đã đi vào chỗ nước chỉ sâu có 80 sải (1 sải bằng khoảng 1,82m). “Không có gì mà phải báo động!”, De Chaumereys hét lên với các thuỷ thủ, rồi lại nhắc lại điều đó một lần nữa với giọng to hơn để yên chí rằng tất cả các thuỷ thủ đều nghe rõ.

3 giờ 10’ chiều, còn thuyền đã vào chỗ nước chỉ sâu có 6 sải và cứ thế càng lúc càng vào chỗ nông hơn. 5 phút sau con tầu bỗng rùng mình nhô lên. Một va đập mạnh, con tầu mắc phải dải đê ngầm Arguin, cách đất liền khoảng 60 dặm (khoảng 110km). Theo các nhân chứng kể lại, một biến dạng hiện lên trên khuôn mặt của De Chaumereys và Richefort, “một nỗi lo lắng bồn chồn rõ rệt, mặt mũi nhăn nhó”.

“Sáng kiến” vô lương tâm:

Vài giây sau, Richefort trở thành đối tượng của một làn sóng chỉ trích dâng lên, chỉ chút nữa là biến thành một cuộc tấn công. Viên thuyền trưởng câm lặng không nói một lời. Tổng toàn quyền Schmaltz và gia đình ông ta nhìn chằm chằm vào viên thuyền trường, mặt lạnh như tiền với vẻ kiêu căng mà đám nhà giầu thường có, ra điều sẽ có ai đó phải lo liệu phục vụ ông ta và gia đình ông ta chu đáo, sao cho mọi việc sẽ phải đâu ra đấy.

Tình thế lúc ấy thật nan giải, con tầu tuy không bị vỡ, chỉ mắc kẹt, nhưng rất khó để kéo nó ra khỏi dải đất ngầm, vì thuỷ triều khá cao. Với nỗ lực làm cho tầu nổi lên để kéo ra, đám thuỷ thủ bắt đầu ném bớt đồ vật ra khỏi con tầu, nhưng một lần nữa De Chaumereys lại quyết định trái ngược: Ông ta ra lệnh ngừng ném đồ, vì sợ cấp trên ở nhà sẽ khiển trách việc quăng bỏ những chiếc đại bác quý giá. Thế là con tầu tiếp tục từ từ chìm xuống tới những mực nước nhơ bẩn mà nó có thể chìm.

Sau một lúc đi đi lại lại lo lắng lẩm bẩm gì đó, De Chaumereys quyết định rời bỏ con tầu. Ông ta tập hợp những người “tin cẩn” để thảo luận phương án cấp cứu, tất nhiên thuỷ thủ không được mời tham dự.

De Chaumereys nêu khó khăn rằng số thuyền cấp cứu không đủ để chở tất cả vào đất liền, Schmaltz lập tức đưa ra “sáng kiến”: Làm một chiếc bè để chở thuỷ thủ vào đất liền, ưu tiên dành thuyền cấp cứu cho những hành khách “quan trọng”, và những thuyền này sẽ kéo chiếc bè vào bờ an toàn.

“Sáng kiến” này lập tức được thi hành: Một chiếc bè gỗ kích thước khoảng 20m x 7m được chế tạo vội vàng từ những cột buồm và xà ngang của con tầu, không có phương tiện để lái và chèo. Khi đám thuỷ thủ và binh lính bắt đầu tỏ ra lo lắng, viên thuyền trưởng vội vàng xua họ lên chiếc bè. Tổng cộng có 146 đàn ông và một phụ nữ đã bước lên đó. Ngay lập tức bè tròng trành, người trên bè bị chìm xuống nước tới thắt lưng, vì số lượng chen chúc quá đông. Cảnh tượng ấy làm nhiều người sợ hãi, 17 người từ chối không chịu lên bè, quyết định ở lại trên phần nổi của chiếc Méduse, hy vọng rồi trước sau cũng sẽ có người đến cứu.

Trong khi đó, 5 trong số 6 thuyền cấp cứu lại rất thưa người. Ít người hơn trên một chiếc thuyền cấp cứu có nghĩa là khẩu phần ăn cho mỗi người trên con thuyền đó sẽ lớn hơn, đó là cách tính toán của đám người “quyền quý”. Cuối cùng thì những chiếc thuyền cấp cứu cũng bắt đầu giương buồm lướt sóng chạy vào bờ, kéo theo chiếc bè. Trong khi De Chaumereys, kẻ đầu tiên rời bỏ con tầu Méduse, cùng với gia đình của Schmaltz và những hành khách “quan trọng” khác được ngồi rộng rãi an toàn để chạy trốn thì đám người khốn khổ trên chiếc bè bị ướt lướt thướt, bắt đầu đối mặt với đói khát, tù túng, và tất cả những gì bị đát nhất. Họ không có đủ lương thực và nước uống, không có một chỗ khô ráo để ngủ, thậm chí một chỗ trống để ngả lưng. Tất cả chỉ có vài thùng rượu và nước uống cùng với ít bột mì, không thể đun nấu và cũng không thể đốt lửa để sưởi ấm.

Đám người trên bè bắt đầu phản ứng với cách đối xử bất công đê tiện quá lộ liễu đó. Vì quá thất vọng, họ rắp tâm sẽ nhẩy lên bất cứ chiếc thuyền cấp cứu nào đi gần tới họ. Do đó mỗi lúc chiếc bè ở gần một chiếc thuyền cấp cứu nào là chiếc thuyền ấy chạy bán sống bán chết cho xa chiếc bè. Tình hình đó làm De Chaumereys hoảng sợ và hắn lập tức ra lệnh cắt đứt dây nối với chiếc bè, để mặc cho nó trôi nổi lênh đênh trên biển, cầu mong lòng khoan dung độ lượng của biển cả để sống còn. Chúng ta có thể hình dung ra trạng thái tâm lý của những người trên chiếc bè lúc đó thất vọng và hoàng loạn đến chừng nào, khi họ trông thấy những chiếc thuyền cấp cứu dần dần khuất khỏi đường chân trời, để mặc họ ở lại trơ trọi giữa lòng biển khơi xa cách đất liền. Liệu có ai sẽ trở lại cứu họ không?

Victor Hugo từng nói: “Kẻ dốt nát gây ra nhiều điều ác hơn chính kẻ ác” (Les ignorants font plus de méchancetés que les méchants), nhưng De Chaumereys vừa dốt nát vừa độc ác, do đó hậu quả do ông ta gây ra vượt quá mọi sức tưởng tượng.

Hậu quả của dốt nát và độc ác:

Thật vậy, nhiều thùng rượu đã bị quăng xuống biển để lấy chỗ ngồi hoặc do bị ngập nước biển. Nhưng mối nguy lớn nhất không phải là sự đói khát, mà là những đe doạ đến từ chính những người trên bè, bởi họ đã bị xô đẩy tới chỗ bùng nổ bản năng hoang dại vốn có trong con người! Khi đêm xuống, họ bắt đầu nhận ra rằng sự thể mới thực sự tệ hại làm sao. Thật đau lòng, khi những kẻ chịu trách nhiệm với cảnh ngộ khốn nạn của họ không còn ở xung quanh nữa, họ bắt đầu quay sang đánh nhau, tự biến mình thành hung thủ lẫn nạn nhân, đầu óc trở nên rồ dại mất hết lý trí. Họ quăng hết những thùng rượu và bột mì xuống biển. Họ tấn công nhau bằng dao rựa, tháo tung dây rợ buộc các thanh gỗ với nhau, làm cho chiếc bè hẹp dần. Sáng sớm hôm sau, chiếc bè trở nên nhẹ hơn vì 20 người đã chết do tự tử hoặc bị giết đêm trước. Đến ngày thứ tư chỉ còn 67 người sống sót.

Đói khát, mất ngủ, và vô vọng, thuỷ thủ càng ngày càng trở nên hung dữ hơn. Việc giết nhau để ăn thịt bắt đầu xẩy ra, đặc biệt thường xẩy ra vào lúc đêm tối. Hình thành các bè cánh chống đối nhau, người gốc Phi chống lại người Âu, thuỷ thủ chống lại binh lính. Mỗi đêm là một đêm điên loạn giết chóc nhau tới tận sáng để khi sáng dậy đếm lại số người thấy còn ít hơn, và những người này biết rằng mình cũng chuẩn bị để chết và trở thành thức ăn cho những kẻ còn sống sót. Số người sống sót giảm đi nhanh chóng nên “khẩu phần ăn” cũng giảm nhanh chóng. Cuối cùng, không chịu được cơn đói khát, một số người bắt đầu xẻ thịt các xác chết còn lăn lóc trên chiếc bè để ăn thịt. Một số người lúc đầu cố kháng cự lại sự sỉ nhục này, nhưng rồi nhận ra rằng những kẻ ăn thịt người đó đã khoẻ mạnh trở lại, thế là từng người một đều thay nhau ăn thịt xác chết.

Cuối cùng còn 15 người sống sót tới khi chiếc Argus tới cứu, sau 13 ngày họ bị bỏ mặc trên biển cả cách xa bờ. Thực ra chiếc Argus không hề có ý định tìm kiếm những người bị bỏ mặc. Việc tìm thấy 15 người này hoàn toàn ngẫu nhiên. Nhiệm vụ của chiếc Argus là tìm kiếm những người còn sống sót trên những chiếc thuyền cấp cứu có thể đã dạt vào bờ, và một nhiệm vụ khác: Tìm lại kho vàng trong con tầu Méduse.

Khi chiếc Argus tiến gần tới chiếc bè, thuỷ thủ trên tầu bị sốc khi trông thấy những người trên chiếc bè đó: 15 người, trong đó nhiều người sắp chết, da chân họ đã bị sóng biển cuốn đi để trơ lại vết thương lở loét, mặt mũi hốc hác và rộp lên vì ánh nắng mặt trời. Số sống sót bằng 10% số người bước lên bè. Những thân xác rơi vãi trên sàn bè, một số đã tan tác từng mảnh và thối rữa, chứng tỏ dấu hiệu đã bị chim biển cắn xé rữa nát. Vài tuần sau, 5 trong số 15 người sống sót đó đã chết, trong đó có Jean Charles, thuỷ thủ da đen cuối cùng, người vung khăn vẫy gọi cầu cứu trong bức tranh của Géricault. 10 người còn lại phải nằm bệnh viện vài tháng.

Còn bức tranh thì sao?

Bản thân bức tranh cũng là một kẻ sống sót sau thảm hoạ, bởi chính tác giả của nó cũng không thể tiếp tục sống thêm nhiều năm để chứng kiến giờ phút bức tranh đạt tới tột đỉnh vinh quang. Sau 2 năm dốc kiệt sức lực cho bức tranh, bệnh lao của Géricault trở nên trầm trọng. Ông đã ra đi khi tài năng đạt tới độ chín nhất. Bức tranh sau đó đã được đem đi triển lãm và làm sợ hãi khắp Châu Âu. Cuối cùng nó được đem bán. Có hai khách mua sẵn sàng trả giá cao: Một thương nhân Anh giầu có và một nhóm quý tộc Pháp – nhóm này định cắt bức tranh ra làm nhiều phần nhỏ rồi đem bán đấu giá từng mảnh. Bên cạnh chuyện mua bán, bức tranh ngày càng nổi tiếng vì nó tố cáo bộ mặt xấu xa của đường lối chính trị bảo hoàng.

Mỉa mai thay, người “cứu” nó khỏi bị “đày” ra nước ngoài và không bị cắt vụn ra thành nhiều mảnh lại chính là vua Louis XVIII. Ông này đã biếu tặng Bảo tàng Louvre để nó còn ở đó cho đến tận ngày nay.

Nhưng vẫn còn chuyện để nói: De Chaumereys nghĩ rằng vàng vẫn còn nằm trên chiến thuyền Méduse nên thay vì lo cứu 17 người còn ở lại đó, ông ta chỉ lo phái một nhóm cứu hộ ra đó tìm lại số vàng.

Sau ba ngày họ đã tìm thấy! Nhưng không phải tìm thấy vàng, mà tìm thấy 3 người mặt mày hốc hác còn sống thoi thóp. Họ đã trải qua 54 ngày chờ đợi, và chắc chắn đó là những ngày kinh hãi. Cả 3 đều điên – kết quả tất yếu của sự đói khát và sợ hãi! Người Anh đã giúp đưa 3 người này trở lại Pháp, và rất may, sau một thời gian họ đã hồi phục.

Tổng cộng số người còn sống được cho tới những năm tiếp theo là 13, gồm 10 người trên chiếc bè và 3 người trên phần nổi của chiến thuyền Méduse. Một trong số đó là nhà phẫu thuật Henri Savigny đã kể lại mọi điều mắt thấy tai nghe cho các nhà chức trách. Tin tức nhanh chóng được tiết lộ cho tờ Journal des débats, một tờ báo chống bảo hoàng nổi tiếng, và số báo ra ngày 13-09-1816 đã loan báo sự thật cho công chúng biết.

Tiếp theo, Savigny và một người sống sót khác là Alexandre Corréard, một nhà địa lý, cùng viết một cuốn sách nhan đề “Naufrage de la frégate la Méduse” (Vụ đắm chiến thuyền Méduse), công bố năm 1817.

Giới hạn trải nghiệm của con người:

Vấn đề càng lúc càng trở thành một vụ bê bối trong chính trường nước Pháp, trong khi giới chức cầm quyền cố tìm mọi cách che đậy vụ việc xấu xa này. Trong thư gửi lên vua Louis XVIII báo cáo tai nạn Méduse, bộ trưởng hàng hải Pháp viết: “Thần vô cùng buồn rầu thưa với bệ hạ rằng bọn nhà báo đang ra sức bới móc chi tiết của chuyện đáng buồn này, mà thần trộm nghĩ rằng cảnh tượng thảm thương này không thể mang ra trước con mắt của công chúng được”. Nhưng không thể không đưa De Chaumereys ra xét xử tại toà án quân sự.

Tuy nhiên, ngay tại nơi được coi là “công minh chính đại” này cũng không có sự chính đại công minh: Lẽ ra De Chaumereys phải bị kết tội đào ngũ và bỏ chết đồng đội, và với tội danh này lẽ ra ông ta phải bị tử hình, nhưng các quan toà đã cứu De Chaumereys bằng cách gán cho ông ta 3 tội danh nhẹ: 1-“trình độ hàng hải kém”, 2-“tự mãn” và 3-“rời bỏ con tầu bị đắm trước các hành khách khác”. Với 3 tội danh đó, ông ta chỉ bị phạt 3 năm tù giam.

Và mặc dù tổng toàn quyền Sénégal, Schmaltz, sau đó cũng bị buộc phải từ chức, mặc dù bộ luật Gouvion de Saint-Cyr sau đó bảo đảm rằng từ nay việc bổ nhiệm quan chức phải dựa trên phẩm chất xứng đáng (thay vì dựa trên cấu kết chính trị), dân chúng Pháp vẫn tiếp tục căm phẫn và thất vọng trước sự thối nát và bất công mà vụ đắm tầu đã để lộ. Tâm lý ấy giống như một ngòi nổ chờ phát hoả.



Bức tranh “Chiếc bè của chiến thuyền Méduse” của Géricault chính là một mồi lửa châm vào ngòi nổ đó, bởi nó đã làm cho người xem kinh hãi nhận ra rằng “Chiếc bè đã đưa những kẻ sống sót tới giới hạn trải nghiệm của con người”, như bình luận của Jonathan Miles về tác động của bức tranh. Có lẽ chưa có một tác phẩm nào chỉ rõ giới hạn phân biệt con người với con vật một cách rõ ràng và sâu sắc đến thế.

Trước khi bắt đầu vẽ bức tranh chính thức, Géricault thực hiện một loạt phác thảo nghiên cứu với 3 cách thể hiện chủ yếu: 1-Cảnh binh lính chống lại các sĩ quan trong ngày thứ hai; 2-Cảnh ăn thịt người xẩy ra sau vài ngày trên bè; 3-Cảnh những người trên bè vẫy gọi con thuyền ở xa đến cứu.

Cuối cùng ông chọn cách thể hiện thứ ba, có lẽ trước hết vì ông nghĩ rằng cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi có hy vọng, dù chỉ là một hy vọng mong manh – con người không thể tiếp tục sống khi tuyệt vọng. Hơn nữa, vì ông đã trực tiếp phỏng vấn những người sống sót, nên chắc chắn những người này đã truyền cảm hứng cho ông. Với họ, chỉ có giây phút hy vọng được sống mới đáng nói, còn tất cả những gì xẩy ra trước đó chỉ là một cơn ác mộng khủng khiếp mà họ muốn quên đi! Thật vậy, những người này kể rằng lần đầu trông thấy chiếc Argus, họ đã ra sức vẫy gọi nhưng chiếc Argus dường như không nhận thấy dấu hiệu, do đó đã đi qua rồi biến mất. Lúc ấy, “từ niềm vui và hy vọng cuồng nhiệt, chúng tôi trở lại nỗi thất vọng cay đắng và sầu muộn không nói sao cho hết”, họ nói. Nhưng 2 tiếng sau, đúng vào lúc mọi hy vọng tắt ngấm thì chiếc Argus bỗng nhiên xuất hiện trở lại và lần này đã trông thấy chiếc bè … Géricault nhấn mạnh tới thời điểm đó để nói với nhân loại rằng cuộc sống có giá trị thiêng liêng đến chừng nào, và những kẻ cướp đi cuộc sống của người khác có tội lớn đến chừng nào!

Đằng sau cánh cửa đóng kín:

Có lẽ tin tức trên báo chí không đủ nên đầu năm 1818, Géricault đã tìm gặp và trò chuyện với Henri Savigny và Alexandre Corréard, 2 trong số những người sống sót, rồi 3 người lại cùng với một người sống sót khác là Lavillette, một thợ mộc, cùng nhau dựng lại mô hình chiếc bè chính xác tới từng chi tiết, thậm chí tới từng lỗ hổng giữa các tấm ván, để làm vật mẫu cho bức tranh. Bất chấp ốm đau (ho lao), ông còn tới Le Havre để ngắm nhìn biển cả dưới bầu trời, chứng kiến cảnh giông bão ngoài biển để đưa nó vào trong tranh . Ông cũng tới nhà xác và bệnh viện để nhìn tận mắt mầu sắc và chất liệu bằng xương bằng thịt của những người sắp chết và đã chết. Ông dựng xưởng vẽ ngay bên kia đường bệnh viện Beaujon. Tại đây ông bắt đầu rơi vào tâm trạng buồn thê lương, buồn cho thân phận yếu ót của con người trước những đe doạ của tự nhiên và của cái ác. Đằng sau cánh cửa đóng kín, ông ném mình vào công việc. Không gì có thể lôi kéo ông ra khỏi đó. Ông bị ám ảnh bởi câu chuyện đang vẽ đến nỗi luôn luôn sợ hãi và né tránh mọi người.

Ông nhờ bạn bè làm người mẫu để vẽ. Eugène Delacroix (1798–1863), một bạn thân của ông đồng thời cũng là một hoạ sĩ nổi tiếng, được chọn làm mẫu để vẽ nhân vật trong tranh đang ngồi thẫn thờ buồn bã, đầy thất vọng, tay phải chống lên má, tay trái buông xuôi trên thân thể đứa con nằm trên đùi. Chính Delacroix cũng bị ám ảnh bởi câu chuyện kinh hãi này. Ông kể: “Géricault cho tôi xem bức Chiếc bè của chiến thuyền Méduse ngay khi ông đang còn vẽ dở dang. Bức tranh đã gây một ấn tượng rất mạnh và khủng khiếp đối với tôi, đến nỗi khi ra khỏi phòng tranh, tôi bắt đầu chạy như một thằng điên không dừng lại cho tới khi về đến nhà và chui tọt vào phòng mới thôi”

Lòng Nhân:

Géricault được coi là một trong những người “khai sáng” ra “chủ nghĩa lãng mạn” (Romanticism) trong hội hoạ. Điều này hơi khó hiểu đối với những người không nghiên cứu hội hoạ. Tuy nhiên sẽ không có gì khó hiểu nếu nói rằng tranh của Géricault thể hiện rõ rệt tinh thần hiện thực chủ nghĩa (réalistic) và nhân đạo chủ nghĩa (humanistic), mặc dù bản thân ông chẳng tuyên bố về bất cứ một thứ chủ nghĩa nào. Đơn giản ông chỉ vẽ theo cảm xúc, ông vẽ vì xúc động trước nỗi đau của người khác và vẽ để tuyên chiến với tội ác. Thời gian ông tập trung để vẽ bức tranh cuối cùng hết 8 tháng, nhưng toàn bộ dự án kể từ việc nghiên cứu, phác thảo, … đến khi hoàn tất tác phẩm tổng cộng hết 18 tháng. Ngay từ lần xuất hiện đầu tiên tại Salon ở Paris năm 1819, “chiếc bè của Géricault đã trở thành tâm điểm của phòng tranh, nó đập vào mắt mọi người và kéo người xem vây quanh nó”, tờ Le Journal de Paris bình luận.

Công trình của Géricault đã đối mặt với một nghịch lý lớn của hội hoạ: Làm thế nào để một chủ đề kinh hãi và thậm chí “ghê tởm” như thế có thể trở thành một tác phẩm mỹ thuật được tán thưởng? Làm thế nào để nghệ thuật hoà giải được với thực tế?

Một hoạ sĩ Pháp cùng thời với Géricault là Marie de la Couperie, nói: “Ngài Géricault đã nhầm rồi. Mục tiêu của hội hoạ là nói những điều đẹp đẽ với tâm hồn và con mắt, thay vì gây ra cảm giác khó chịu gớm tởm như thế”.

Nhưng bức tranh vẫn được rất nhiều người ngưỡng mộ, trong đó có nhà văn kiêm nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng Auguste Jal, một người không tiếc lời ca ngợi chủ đề mang tính chính trị chống đối và ý thức đòi tự do của nó (bênh vực người thấp cổ bé họng, phê phán chủ nghĩa bảo hoàng cực đoan). Nhà sử học Jules Michelet còn làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn khi ông cảnh báo xã hội đương thời: “Toàn bộ xã hội chúng ta đang đi trên chiếc bè Méduse”.

Cuối cuộc triển lãm năm 1819, ban giám khảo quyết định trao tặng huy chương vàng cho bức tranh, tuy nhiên vẫn chưa chịu công nhận giá trị của nó tới mức cần phải tuyển chọn để đưa vào bộ sưu tập tranh quốc gia tại Bảo tàng Louvre. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, cuối cùng nó cũng đã được đưa về Louvre. Tại đây, lời giới thiệu trưng bầy bên cạnh bức tranh nói với chúng ta rằng “người anh hùng duy nhất trong câu chuyện bi thảm đầy thương tâm này là tinh thần nhân đạo”.

Một người đọc xong lời giới thiệu đó liền quay sang thắc mắc với tôi: “Tinh thần nhân đạo gì ở đây vậy?”.

Tôi suy nghĩ nhanh rồi trả lời: “Géricault muốn tất cả chúng ta thắp hương cầu nguyện cho những linh hồn xấu số, gián tiếp kêu gọi loài người đừng bao giờ đẩy đồng loại tới chiếc bè của chiến thuyền Méduse, đừng bao giờ đối xử với nhau như những người ở trên chiếc bè đó nữa! Con người phải xứng đáng là con người, trong đó LÒNG NHÂN và chỉ có LÒNG NHÂN mới là giá trị đích thực!”.

Nguồn: Đã đăng trên Khoa Học & Tổ Quốc và Vietsciences tháng 07-2010

Wednesday, May 21, 2014

Tấm Cám thời nay

Chuyện kể rằng, ngày xửa ngày xưa, trong một gia đình nọ, có hai người con gái cùng cha khác mẹ. Tấm là con của bà vợ cả, Cám là con của bà vợ lẽ. Người cha mất rồi, mẹ Tấm cũng mất, nên Tấm phải ở cùng với dì ghẻ là mẹ của Cám.

- Tấmmmm!!!!!!!!! Tao đã cấm mày xào nấm với dấm rồi cơ maaaaaaaaà. Đầu mày có bị ấm không? Cẩn thận tao cho vài đấm.

- Tấmmmm!!!!!!!!! Mày hâm à, mày câm à. Sao mày đâm thủng cái mâm???

Hàng ngày, những lời đay nghiến, chửi bới Tấm xảy ra như cơm bữa, cho dù gì ghẻ đã đôi lần bị phê bình trước tổ dân phố vì vi phạm nếp sống văn minh gia đình văn hoá. Tấm làm gì cũng bị bà mắng, trong khi Cám cũng đâm thủng mâm lúc chơi đùa với Tấm thì lại được mẹ khen là văn võ song toàn.



Một ngày nọ, dì ghẻ bỗng thèm ăn tép xào khế. Bà liền gọi hai cô đến và rằng: “Hai con! Hai con hãy ra ngoài ao tắm rửa giặt giũ cho sạch, cho thơm. Nhân tiện lúc đi ngang qua đồng bắt cho mẹ ít tép. Đứa nào bắt được nhiều tép về đây thì ta thưởng cho yếm đỏ, tôm thì càng tốt” .

Hai cô vâng lời mẹ và chạy đi. Tấm chăm lam, chăm làm. Cô nhảy ào xuống đồng. Một tay cô mò từng con tép, bắt từng con tôm bỏ vào giỏ. Còn tay kia bứt từng con đỉa đang bám chặt vào đùi, nhìn trước ngó sau rồi vứt mạnh về phía Cám đang say giấc trên bờ.

Chẳng mấy chốc, giỏ tép đã đầy kín. Tấm cất tiếng gọi Cám đi về. Tỉnh dậy, Cám bỗng thấy hoảng sợ vô cùng khi nhìn thấy giỏ của mình trống rỗng. Như thế này thì mẹ sẽ đánh mất. Vừa mới hôm qua thôi, Cám còn chứng kiến cảnh mẹ mình đấm lia lịa vào mõm con chó becgie vì nó trót xơi trộm của bà củ khoai lang. Con chó dữ tợn là thế mà phải bỏ chạy, để lại bốn chiếc răng cửa ở bãi chiến trường. Nhớ đến cảnh đó, Cám bất giác đưa tay che lấy miệng mình...

Về đến nhà, dì ghẻ đon đả ra đón Cám và thưởng cho Cám cái yếm đỏ. Còn Tấm, cô khóc tấm tức rồi lủi thủi ra chiếc giếng sau nhà. Cô thấy cuộc đời sau lắm trái ngang. Cô đã bỏ ra bao nhiêu công sức để bắt đầy giỏ tôm tép mang về cho mẹ ghẻ, vậy mà lúc lên bờ, cô đã cả tin khi nghe Cám nói: “Chị Tấm ơi chị Tấm. Đầu chị lấm chị ngụp cho sâu kẻo về mẹ mắng”. Rồi lừa lúc Tấm quay đi, Cám đã tráo bỏ giỏ rỗng của mình lấy giỏ đầy của Tấm rồi phi trâu một mạch về lĩnh yếm mới, bỏ lại đằng sau vài viên gạch do Tấm ném với theo.

“Thôi thì của đi thay người”, Tấm tặc lưỡi. Sau đó cô nhẹ nhàng thả con cá Bống trong giỏ xuống giếng. Con cá Bống này là của một người đàn ông lạ mặt tặng cho. Lúc ở ngoài đồng tép, đang nằm đập thùm thụp hai tay xuống đất vì uất ức, bất chợt ngẩng lên, Tấm bỗng thấy ông ta từ đâu xuất hiện. Ông tự giới thiệu mình là Bụt. Tấm nhớ rõ lắm vì cái tên này lần đầu tiên cô thấy có trên đời. Lúc đầu cô đã nghĩ thầm "Tên gì mà xấu tệ, sao không giới thiệu tên Việt hay Hảo đi cho đẹp???". Tuy nhiên, cô đã trở nên có cảm tình khi nghe ông nhẹ nhàng hỏi: “Vì sao con khóc?”. Sau khi nghe Tấm kể lại mọi chuyện, ông Bụt mới cho Tấm con cá Bống này và dặn, mỗi khi cho Bống ăn cơm, hãy nhớ gọi: “Bống ơi Bống! Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta. Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.” Dặn xong, ông bỏ chạy vì bị con chó becgie mà Tấm mang theo nhe bộ hàm thiếu bốn chiếc răng cửa ra dọa.

Kể từ ngày đó, mỗi lần sau bữa ăn, Tấm đều lén trút một bát cơm nóng hổi vào trong yếm và nhảy tưng tưng ra ngoài giếng để cho Bống.

Những lúc như vậy, Tấm phải vừa nhảy vừa huýt gió để dì ghẻ và Cám khỏi nghi ngờ về hành động của mình. Tuy nhiên, hành động đó của Tấm đã không qua được con mắt tinh đời của dì ghẻ.

“Không điên! Không dở hơi! Không thần kinh! Vậy mà vừa ăn no xong lại nhảy chồm chồm như phải bỏng” – Dì ghẻ nghĩ thầm. “Rõ ràng là khuất tất rồi đây”.

Rồi mụ sai Cám rình Tấm mọi lúc, mọi nơi; ghi lại mọi diễn biến, việc làm thường ngày của Tấm. Cám ghi được tất, không bỏ sót bất kỳ một hành động nào, kể cả những câu chửi thầm Tấm dành cho hai mẹ con Cám mỗi khi nàng tủi phận. Và rồi Cám phát hiện ra chiếc giếng, nơi Tấm thường nhảy tưng tưng đến mỗi khi ăn cơm xong. Ngay sau đó, Cám về thưa với mẹ. Dì ghẻ uất lắm. Bà nghĩ Tấm mang cơm cho giai...

Ngay sáng hôm sau, lúc con gà còn chưa kịp cất tiếng gáy vì chiều hôm trước bị Cám đá vào cổ họng trong lúc tập võ, dì ghẻ đã gọi Tấm dậy: “Con ơi con ơi. Đi chăn trâu phải chăn đồng xa. Chớ chăn đồng gần, làng bắt mất trâu”. Tấm ức lắm. Nàng vừa làu bàu, vừa mắt nhắm mắt mở nhảy lên lưng trâu. Làm sao mà không tức cho được, khi mới hai rưỡi sáng đã bị đánh thức, trong khi lịch ngủ thường ngày của nàng chỉ được bắt đầu vào lúc hai giờ mười lăm.

Tấm vừa đi khuất, dì ghẻ và Cám vội chạy lại gần chiếc giếng. Từ đằng xa, hai mẹ con thi nhau nhặt gạch ném rào rào về phía đó. Chẳng biết họ đã ném bao nhiêu viên, chỉ biết rằng chiều hôm đó cả làng phải nghe chửi vì nhà hàng xóm bên cạnh tưởng mất trộm nguyên liệu.

Tối đến, như thường ngày, Tấm lại mang cơm ra cho Bống ăn...

“Bống ơi Bống! Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta. Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.”

Người ta nghe Tấm gọi mãi, gọi mãi. Và rồi tiếng Tấm rú vang khi chỉ thấy một cục máu nổi lên mặt nước. Tấm oà khóc. Kẻ nào đã hãm hại Bống? Kẻ nào đã đang tâm làm việc này? Và thế là tối hôm đó, lần thứ hai trong ngày, cả làng lại một lần nữa phải nghe chửi.

Bụt lại hiện lên và hỏi: “Vì sao con chửi?”. Sau khi nghe Tấm kể lại sự tình, Bụt mới bảo Tấm tìm xương Bống về cho vào bốn cái lọ và chôn vào bốn góc giường nơi Tấm nằm. Nghe lời Bụt, Tấm quay về nhà tìm xương Bống. Tìm mãi mà không thấy, Tấm lại khóc. Khóc mãi thì có một tiếng nói the thé vang lên “Cục ta cục tác, cho ta nắm thóc ta bới xương cho”. Ngẩng đầu lên, Tấm nhận ra con gà trống ngày nào, nay chất giọng đã hoàn toàn thay đổi vì di chứng của lần bị Cám đá vào cổ. Tấm ném thóc cho gà. Gà bới một lúc thì tìm thấy xương. Tấm nhặt lấy bỏ vào lọ và đem chôn dưới bốn chân giường nơi mình nằm...

Ít lâu sau, nhà vua mở hội. Mọi người dân trong kinh thành đều được mời tới dự bữa tiệc do vua chiêu đãi. Mẹ con Cám nghe tin dậy từ sáng sớm, chuẩn bị những bộ váy đẹp nhất, những đôi hài đẹp nhất, và đặc biệt là bỏ qua thói quen ăn sáng hàng ngày. Tấm cũng muốn đi lắm. Gì thì gì, ăn uống free, không đi cũng phí. Nhưng dì ghẻ lại không đồng ý. Bà nghĩ ra kế. Ban đầu, bà lấy một lon sữa ông Thọ tính phục vụ kế hoạch. Nhưng thấy không ăn thua, bà kiếm một hộp sữa Cô gái Hà Lan loại 3 kg, xúc đầy thóc, đầy gạo, sau đó đem đổ tất vào thùng và bảo Cám quay cho chúng trộn lẫn. Sau đó bà bắt Tấm nhặt thóc gạo riêng ra, xong thì mới cho đi hội. Tấm uất lắm. Cô muốn bóp cổ Cám cho hả giận. Nhưng khi thấy Cám đang nằm thở phì phò vì chóng mặt, lòng nhân từ đã khiến Tấm gạt phắt tư tưởng tội lỗi...

Mẹ con Cám đi rồi, Tấm bắt tay ngay vào công việc. Nhưng nhặt mãi, nhặt mãi mà vẫn không hết, Tấm lại khóc.

Bụt hiện lên và hỏi: “Làm sao con khóc?”, và rồi khi biết rõ câu chuyện, Bụt mới cười mà rằng: “Xời, tưởng gì, chuyện nhỏ. Ta sẽ cho chim của ta đến giúp con”.

Ngay lập tức, chim của Bụt bay đến, sà vào thùng thóc. Tấm thích chí lắm. Có trong mơ cô cũng chẳng hình dung ra nổi, Bụt cho chim nhặt thóc giúp mình. Tiện thể, Tấm bê cả thùng hạt dẻ, nhờ chim bóc vỏ hộ...

Trong chốc lát, mọi việc đã xong xuôi. Tấm hớn hở vì sắp được đi trảy hội. Nhưng khi nhìn mình trong gương, Tấm lại khóc. Bộ váy yếm duy nhất dì ghẻ cho cô mặc từ ngày này qua ngày khác, từ mùa đông sang mùa hè, giờ chẳng khác gì bikini hai mảnh. Và đôi guốc cao gót, giờ trông y hệt đôi guốc mộc. Tấm khóc to lắm. Một phần vì cô tủi, và phần nhiều cốt để cho Bụt nghe thấy.

Và Bụt đã nghe thấy thật. Làm Bụt như làm dâu trăm họ, thấy có tiếng khóc ở đâu là phải xuất hiện nơi đó, trừ nhà hộ sinh. Bụt đến chỗ Tấm, và cố gắng cất giọng ngọt ngào: "Lại chuyện gì nữa đây???". Sau khi nghe Tấm kể lể sự tình, Bụt mới bảo Tấm: "Con đào những cái lọ đã chôn ngày trước lên, thì muốn quần áo đẹp thế nào cũng có, toàn Versace không hà". Nói xong, Bụt biến mất luôn. Kể từ đó, không ai còn thấy Bụt nữa xuất hiện lần nào nữa trên giang hồ và nghe đâu, ông đã nằng nặc xin chuyển công tác...

Nghe lời Bụt, Tấm đào tung cả ngôi nhà vì chẳng nhớ lần trước đã chôn lọ ở đâu. Cuối cùng, cô cũng đã tìm thấy chúng. Nào thì áo, nào thì quần, nào thì giày, và còn cả một con ngựa.

Tấm đóng bộ gọn gàng, nhảy lên lưng ngựa và phi thẳng đến nơi trảy hội. Lúc đi ngang qua cầu, táy máy thế nào, Tấm rơi một chiếc giày xuống hồ trúng ngay đầu vị vua trẻ đang ngồi câu cá ở dưới đó. Vua liền ngóc đầu lên chửi với theo "Mẹ đứa nào ném giầy vào đầu ông" . Tấm sợ rằng sẽ đến muộn giờ trẩy hội nên Tấm mặc kệ và không quên vứt lại câu chửi thề về phía vị Vua trẻ đó "Sư cha đứa nào chửi bà", nhảy lên lưng ngựa và tiếp tục thúc ngựa phi nước đại.

Đến nơi, đúng lúc nhà vua đang mở cuộc thi kén vợ. Ai ướm vừa chiếc giày mà vua mang ra, người đó sẽ là vợ của vua. Điều lệ cực kỳ đơn giản, dễ chơi, dễ trúng thưởng nên ai cũng muốn thử vận may, trong đó có cả mẹ con nhà Cám. Vậy mà lạ thay, chẳng ai ướm vừa. Người ít nhất cũng rộng ngót một size. Tấm len lỏi chen vào. Cô nhận ngay ra giày của mình. Làm sao mà không nhận ra chiếc giày quá khổ. Tấm ngạc nhiên lắm. Trong khi đó nhà Vua thầm nghĩ "Ông mà bắt được mày thì mày biết tay ông". Tấm bèn xin ướm thử và vừa khít. Nàng trở thành vợ của nhà vua từ đó. Chẳng ai biết được vị vua trẻ đó đang toan tính điều gì chỉ thấy chàng ta nhếch mép cười mỉm trông vẻ rất gian xảo.

Tấm và vua kẻ tám lạng người nửa cân, hai người suốt ngày cãi nhau chí chóe chẳng ai chịu nhường ai, nhà vua ra sức hành hạ tấm thân ngọc ngà của tấm, nào là làm bia cho vua tập bắn, nào là làm bao cát cho vua tập oánh quyền... Tấm cũng chẳng vừa, Tấm bắt ruồi muỗi bỏ vào mồm vua lúc vua ngủ gật.... Chính vì thế mà cả hai người rất tâm đầu ý hợp, nhà vua thật sự rất sung sướng khi đã tìm được một ý trung nhân theo mong muốn của mình.

Thấm thoắt đã đến ngày giỗ bố, Tấm xin phép vua cho nàng trở về nhà. Vừa đến nơi, Tấm đã bị dì ghẻ bắt trèo cau hái quả. Nàng bực mình lắm. Dù gì thì cũng đường đường là chánh cung hoàng hậu, vậy mà phải trèo cây cau. Nhưng rồi nghĩ đến nghĩa vụ làm con, nàng làu bàu vài câu rồi nghe theo lời của mẹ ghẻ, trèo lên cây và không quên cắp nách đôi giày đã đi vào lịch sử.

Lại nói về mẹ con Cám, khi thấy Tấm đã ở chót vót trên ngọn cây, cả hai liền cầm rìu chạy ra mà mắm môi mắm lợi chặt gốc. Cây đổ ụp xuống ao khiến Tấm rơi xuống nước. Cho chắc ăn, mẹ con Cám gí điện xuống nước cho Tấm chết hẳn. Báo hại mấy trai làng đang tắm cách đó không xa cũng bị một phen điện giật. Thấy Tấm đã chết hẳn, Cám mới lấy quần áo của Tấm và mặc vào người rồi đi thẳng vào cung.

Tấm chết đi hoá thành chim vàng anh. Nàng muốn bay vào cung lắm. Nàng muốn được nhìn thấy nhà vua hàng ngày. Nhưng nàng không dám. Không chỉ riêng nàng, tất cả loài chim trong vùng chỉ nghe đến tên nhà vua là đều bay mất dép. Chả là nhà vua đang tập bắn chim. Con vật xấu số nhất bị vua bắn chết mới chỉ cách đây mấy ngày bằng cả một băng AK. Nàng chỉ dám đến bên vua mỗi khi đêm về và hót cho vua nghe những điệu nhạc mà chính nàng cũng không thể hót lại được lần thứ hai. Thấy con chim lạ cứ quấn quít bên mình, một hôm vua hỏi: “Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh chui vào ống quần”. Nghe vậy, vàng anh bay vào ngay, và suýt chết ngạt trong đó...

Từ ngày có vàng anh, nhà vua quên cả Cám mỗi khi đêm về khiến Cám tức lắm. Nó bèn sai quân lính bắt chim, vặt sạch lông vứt ra vườn. Từ đám lông ấy mọc ra hai cây soan đào. Vua thấy đẹp, bỏ chơi chim chuyển sang chơi cây. Cám tức mình lại sai chặt sạch cây trong vườn và lấy gỗ đóng thành khung cửi. Niềm vui chẳng trọn vẹn. Hôm sau suýt nữa thì Cám bị truy tố vì tội lâm tặc.

Khung cửi hàng ngày phát ra tiếng kêu: “Kẽo cà kẽo kẹt, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt cho”. Điên tiết, Cám đốt thành tro và đem rải ra đường. Từ đám tro ấy lại mọc lên cây thị, và chỉ có duy nhất một quả...

Lại nói về nhà vua. Từ ngày Cám về cung, nhà vua cảm thấy có điều gì lạ lạ. Vua sinh buồn phiền, ngày ngày dạo chơi khắp nơi cho khuây khoả. Một hôm, khát nước, vua đi qua quán của bà già nọ. Vua kêu hai cốc trà đá. Bà cụ mời vua miếng trầu. Thấy miếng trầu ngon sao giống của hoàng hậu têm ngày trước, nhà vua mới gặng hỏi, đồng thời xin bà miếng nữa...

Thì ra một lần bà lão đi ngang qua cây thị, thấy có quả thị ngon, bà mới nói: “Thị ơi thị rụng bị bà, bà để bà ăn chứ bà không ngửi”. Gọi mãi, gọi mãi mà thị không rơi, bà mới dùng dép ném. Thấy quả thị đẹp, bà lão mang về nhà để ngắm hàng ngày. Nhưng kỳ lạ làm sao, từ ngày có thị, mỗi lần bà lão đi ra khỏi nhà, khi quay về, nhà cửa lại gọn gàng sạch sẽ, cơm nước đầy đủ. Bà ngạc nhiên lắm. Bà kể cho mọi người nghe, và sau đó phải giấu biệt thị vì ai cũng muốn mượn. Rồi một ngày bà giả vờ đi ra khỏi nhà rồi sau đó quay lại, bà thấy trong quả thị có một người con gái nết na, xinh đẹp bước ra. Bà mừng lắm, chạy vội lại xé tan vỏ thị. Từ đó Tấm ở lại với bà lão.

Khi vua hỏi, bà mới gọi Tấm ra. Hai vợ chồng nhận ra nhau, mừng mừng tủi tủi. Sau đó vua đưa Tấm về cung lại làm hoàng hậu.

Gặp Tấm, thấy nàng xinh đẹp hơn xưa, Cám mới hỏi: “Chị Tấm ơi, chị làm thế nào mà đẹp thế?”. Tấm mới sai đào một cái hố sâu, bảo Cám đứng dưới để Tấm giội nước sôi xuống. Cám vui lắm. Vậy là nó lại sắp được đẹp như Tấm rồi. Cám cười rạng rỡ và không quên dặn Tấm phải đun nước thật sôi giội cho sướng...

Cám chết, Tấm băm vằm xác Cám làm nghìn mảnh, nấu mắm rồi sai quân lính đóng chum dán nhãn Phú Quốc đem biếu dì ghẻ. Dì ghẻ đang ăn khen ngon, bỗng có con quạ đến kêu rằng: “Ngon gì mà ngon, mẹ ăn thịt con có còn xin miếng”. Dì ghẻ giật mình, nhìn xuống đáy chum thấy đầu của Cám. Mụ kêu to ba tiếng rồi lăn đùng ra chết. Tấm cũng suýt bị truy tố vì tội giết người cũng may mắn là có ô dù to nâng đỡ nên mới thoát nạn... Từ đó Tấm suốt ngày ở trong cung chẳng dám đi đâu sợ dân chúng chửi bới chê cười bởi chí ít gì thì Tấm cũng là đương kim hoàng hậu mà.

Youngdad Liem sưu tầm